Các kháng sinh này có phổ thích hợp nhất dựa trên khả năng gây bệnh và độ nhạy cảm của vi khuẩn của từng loại bệnh nhiễm khuẩn cụ thể (từ dữ liệu vi sinh 01/2018 - 06/2019). Nếu phác đồ đưa ra nhiều lựa chọn, ưu tiên chọn kháng sinh có độ nhạy cảm cao hơn hoặc Y tế - Dân số. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng kháng sinh trong bệnh viện. Bộ Y tế vừa ban hành tài liệu hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện. Đây là tài liệu được áp dụng tại tất cả các bệnh viện trong bối cảnh hầu hết các cơ sở 241 XÂY DỰNG QUI TRÌNH KIỂM TRA KHÁNG SINH ĐỒ CỦA VI KHUẨN GÂY BỆNH GAN THẬN MỦ TRÊN CÁ TRA (PANGASIANODON HYPOPHTHALMUS) TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC ĐỊA Nguyễn Thị Bạch Mai Khoa Thủy Sản, Đại học Nông lâm TP.HCM Email: bachmai77@yahoo.com ABSTRACT A study was conducted to develop a field antibiogram test in comparison with the Một vi khuẩn kháng kháng sinh thường là do phối hợp các nguyên tắc riêng rẽ kể trên, ví dụ vi khuẩn Gram - âm kháng b-lactam là do sinh ra b-lactamase cộng với giảm khả năng gắn PBPs (penicilin binding protein = protein gắn penicilin) và giảm tính thấm của màng nguyên tương. copy ghi nguồn : daihocduochanoi.com đồng tác giả emma cho biết: "trên toàn cầu, động vật nhận được hầu hết kháng sinh nhiều gấp ba lần so với con người, mặc dù phần lớn việc sử dụng này không cần thiết về mặt y khoa, và nhiều dòng nhiễm khuẩn kháng kháng sinh mới hiện đang phổ biến ở người sau khi bắt nguồn trong gia súc của chúng ta," emma glennon, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại khoa … . Theo WHO, mối đe dọa ngày càng tăng về kháng kháng sinh ở Việt Nam bắt nguồn từ việc sử dụng kháng sinh không hợp lý ở tất cả các cấp của hệ thống chăm sóc sức khỏe, chăn nuôi và cộng đồng. Siêu vi khuẩn xuất hiệnVào một ngày chủ nhật cuối tháng 5/2016, điều mà các bác sĩ lo sợ từ lâu đã đến một bệnh nhân tại Mỹ nhiễm một chủng vi khuẩn dường như hoàn toàn kháng với các loại thuốc kháng được Washington Post miêu tả là một phụ nữ 49 tuổi, sống ở bang Pennsylvania, không hề du lịch ra khỏi Mỹ trong vòng 5 tháng gần nhất, và trong nước tiểu có chứa một chủng vi khuẩn E. coli kháng lại colistin, “loại thuốc kháng sinh mạnh cuối cùng” mà con người có thể sử là dấu hiệu cảnh báo khiến các bác sĩ trên toàn thế giới và giới chức nước Mỹ không ngừng lo sợ, bởi mặc dù bản thân E. coli không được xem là một chủng đặc biệt nguy hiểm, đồng thời sau đó bệnh nhân cũng đã hồi phục và cũng không có dấu hiệu cho thấy chủng vi khuẩn của người này biến thành một dịch bệnh, nó đã gióng lên hồi chuông về một điều khủng khiếp hơn nỗi sợ hãi rằng các gen kháng kháng sinh sẽ bắt đầu nhân rộng sang những chủng vi khuẩn khác nguy hiểm tự nhiên, vi khuẩn và nấm nguồn gốc tạo ra các loại kháng sinh đã chiến đấu với nhau từ hàng trăm triệu năm. Theo thời gian, một số vi khuẩn phát triển những cơ chế để chống lại sự tấn công của nấm, chẳng hạn như làm thành tế bào dày hơn, ít thấm hơn, tăng khả năng trung hòa các enzyme do nấm tạo ra hoặc tiết ra các chất đe dọa khả năng chống chịu của vi khuẩn đã phát triển một cách vượt bậc trong thời đại kháng sinh. Khi tiếp xúc với thuốc kháng sinh thường xuyên, liên tục, phần lớn vi khuẩn gây nhiễm trùng sẽ bị tiêu diệt nhưng một số ít sống sót và dần dần tiến hóa ra các gen chống đỡ được thuốc. Quần thể vi sinh vật ngày càng được tạo nên từ các vi khuẩn mang gen kháng thuốc – gọi là “siêu vi khuẩn”. Do có cấu tạo khá đơn giản, những vi khuẩn này dễ dàng trao đổi gen với các loại vi khuẩn khác, khiến chúng phát triển khả năng kháng nhiều loại kháng sinh thực tế, những siêu vi khuẩn như vậy đã hiện diện ở Việt Nam. Tại hội nghị khoa học toàn quốc năm 2017, một nhóm các bác sĩ đã bày tỏ lo ngại về tình trạng các cơ sở khám chữa bệnh tuyến cuối như bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Bạch Mai, Nhi Trung ương, Phổi Trung ương… đang phải đối mặt với tốc độ lan rộng của những vi khuẩn đa kháng kháng 2 nhóm kháng sinh trở lên và toàn kháng kháng với tất cả kháng sinh. Thậm chí đã có những bệnh nhân tử báo cáo, tỉ lệ kháng thuốc của nhóm vi khuẩn đường ruột ở Việt Nam đã lên tới 30-40%, kháng luôn cả kháng sinh mạnh nhất là colistin. Tại một số tỉnh phía Nam, tỉ lệ kháng thuốc của lên tới hơn 74%. Tỉ lệ kháng của vi khuẩn gây nhiễm trùng K. pneumoniae lên tới gần 60%; trong khi vi khuẩn gây nhiễm khuẩn bệnh viện kháng với hầu hết các loại kháng sinh ở mức trên 90%.Tổ chức Y tế Thế giới WHO xếp Việt Nam vào nhóm các nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới. Trong khi nhiều quốc gia phát triển đang còn sử dụng kháng sinh thế hệ một có hiệu quả thì Việt Nam đã phải sử dụng tới kháng sinh thế hệ ba và bốn.“Với những trường hợp toàn kháng, bác sĩ cũng đành bất lực, chỉ có thể giúp bệnh nhân truyền dịch, nâng cao thể trạng, tăng cường dinh dưỡng để cơ thể tự chống đỡ với vi khuẩn”, TS. Đoàn Mai Phương, khi đó làm việc tại khoa vi sinh của bệnh viện Bạch Mai, chia dụng thuốc ở cả người và động vậtNhững con số trên đã lôi vấn đề kháng kháng sinh ra khỏi bóng tối để phơi bày một thực trạng chúng ta đang sử dụng kháng sinh một cách bừa bãi. Từ năm 2009 đến nay, số lượng thuốc kháng sinh ở Việt Nam bán ra ngoài cộng đồng đã tăng hơn 2 lần. Hơn 70% kháng sinh trong nước hiện được dùng cho nông nghiệp, chăn nuôi và thú y, số còn lại là dùng cho Phạm Đức Phúc, Phó Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Y tế công cộng và Hệ sinh thái ở trường ĐH Y tế công cộng, chỉ ra 3 nguyên nhân nổi trội đang làm khả năng đột biến của vi khuẩn ở Việt Nam tăng tiên, đó là việc các bác sĩ đã kê đơn quá mức và làm dụng thuốc kháng sinh. Vì thiếu năng lực của hệ thống phòng xét nghiệm nên không phải lúc nào các bác sĩ cũng có đủ thông tin để biết được vi sinh vật mà bệnh nhân bị nhiễm có mang gen kháng thuốc hay không. Do vậy, để đối phó với bệnh nhiễm trùng chưa xác định, họ thường dùng cách tiếp cận kháng sinh “bao vây” – tức kê đơn một vài ngày, nếu không khỏi thì đổi sang kháng sinh thực tế, khảo sát của Bệnh viện Chợ Rẫy cho biết có khoảng 50% kháng sinh được bác sĩ kê đơn bất hợp lý; 32% bác sĩ chỉ định sử dụng kháng sinh cho các bệnh nhân không nhiễm khuẩn; 33% bác sĩ sử dụng kháng sinh kéo dài và không cần hai, việc quản lý thuốc kháng sinh còn khá lỏng lẻo, người dân có thể dễ dàng mua kháng sinh tại các hiệu thuốc mà không cần bác sĩ kê đơn. Tại thành thị, 88% kháng sinh được bán mà không cần kê đơn, ở nông thôn tỷ lệ này là 91%- theo thống kê của Bộ Y này đặc biệt nghiêm trọng ở trẻ em do nhiều trẻ được các ông bố, bà mẹ tự ra hiệu thuốc mua kháng sinh theo kinh nghiệm, theo lời gợi ý của người bán tại hiệu thuốc, theo đơn của người khác hay theo “bác sĩ google” – bất chấp căn bệnh đó có thực sự cần đến kháng sinh hay không. Mỗi năm, người Việt Nam tiêu thụ kháng sinh nhiều hơn gấp đôi lượng kháng sinh trung bình của người dân EU, dù có thể không ốm ba là việc sử dụng quá mức kháng sinh trong chăn nuôi với mục đích vỗ béo hoặc phòng ngừa bệnh tật. Mặc dù Bộ NN&PTNT đã đưa ra một danh sách các kháng sinh cấm và hạn chế sử dụng cho chăn nuôi nhưng trên thực tế, do thiếu các cơ chế kiểm soát hiệu quả, các thương lái vẫn bán sản phẩm chứa kháng sinh trôi nổi trên thị trường để trộn vào thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản. Người chăn nuôi thường không đủ chuyên môn để biết điều này, hoặc nếu biết cũng có thể tặc lưỡi bỏ qua vì lợi ích kinh khi đó, các bác sĩ thú y vẫn chưa có một hướng dẫn cụ thể, hoàn thiện về sử dụng kháng sinh có trách nhiệm cho động vật. Do vậy, việc kiểm soát sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi thực sự đang trông chờ vào sự tự giác của các chủ trang TS. Phúc, nếu mỗi nơi chúng ta đều sử dụng kháng sinh nhiều hơn một chút thì tổng tồn dư kháng sinh trong cộng đồng sẽ cực kì lớn và tạo ra hậu quả khôn lường. “Mọi người cứ nghĩ rằng bệnh của động vật và người là tách biệt. Nhưng khi con người và động vật cùng chia sẻ các loại vi khuẩn với nhau, thì sớm hay muộn, các siêu vi khuẩn mang gen kháng thuốc cũng sẽ phát triển được khả năng lây chéo từ loài này sang loài khác. Viễn cảnh tồi tệ nhất chính là tình trạng không còn thuốc nào để chống lại vi khuẩn gây bệnh,” anh lo một sự liên kết mạnh mẽ hơnCác nhà nghiên cứu cho rằng hầu hết các giải pháp mà chúng ta dùng cho các đại dịch đều có thể áp dụng cho cuộc chiến với kháng kháng sinh. Chẳng hạn, ta phải có hệ thống giám sát và các phòng thí nghiệm đủ tiêu chuẩn để lập bản đồ theo dõi tình trạng sử dụng kháng sinh cũng như cảnh báo về sự xuất hiện của vi khuẩn kháng thuốc. Bên cạnh đó, cần tăng độ bao phủ vaccine để tránh mắc các bệnh do vi khuẩn gây nên. Ngoài ra, còn cần thực hiện an toàn sinh học và kiểm soát nhiễm trùng để ngăn vi khuẩn kháng thuốc lây lan trên diện rộng, và đầu tư vào các nghiên cứu kháng kháng sinh cũng như tác động của chúng tới kinh tế - xã hội để cung cấp thông tin đúng đắn cho các nhóm đối cấp độ quốc gia, Chính phủ và các bộ ngành có thể làm rất nhiều việc để khuyến khích sử dụng kháng sinh một cách thích hợp và có trách nhiệm. Một số người gọi đây là quản lý kháng sinh, nhưng thực sự nó chính là việc chỉ dùng kháng sinh khi chúng thật sự cần nhiều cách để đạt được điều này, chẳng hạn như thiết lập các quy định bắt buộc phải có kê đơn bác sĩ mới được sử dụng kháng sinh, cung cấp cho bác sĩ những công cụ chẩn đoán chính xác để đảm bảo rằng bệnh nhân nhiễm trùng thực sự do vi khuẩn kháng thuốc trước khi kê đơn, hoặc thực hiện các chiến dịch thông tin đại chúng về mối hiểm họa của tình trạng kháng kháng sinh cho người nhà quản lý cũng có thể thúc đẩy việc cải tiến các hệ thống sản xuất – chẳng hạn như giảm mật độ chăn nuôi và sử dụng các giống khỏe mạnh hơn – để giảm nhu cầu về kháng sinh trên động vật, hay hướng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi đầu tư vào những sản phẩm thay thế kháng sinh. Những năm gần đây, một vài công ty đã bắt tay với các trang trại bản địa để thử nghiệm những sản phẩm từ bồ công anh, tỏi, lá ổi, quế… nhằm chứng minh có thể nuôi lớn những đàn lợn, gà lớn mà không cần đưa chúng vào chế độ ăn kèm kháng nguồn tài chính từ các tổ chức quốc tế từ Mỹ, Anh cùng hỗ trợ kỹ thuật của WHO và FAO, Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực Tây Thái Bình Dương thực hiện "Kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc" tập trung vào sức khỏe con người giai đoạn 2013-2020 và hai lần đưa ra "Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý sử dụng kháng sinh và phòng chống kháng kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản" giai đoạn 2017-2020 và giai đoạn 2021-2025.Trong hơn 10 năm, các nhà hoạch định chính sách đã cố gắng ngăn chặn việc lạm dụng kháng sinh. Mặc dù vậy, hiệu quả đạt được chưa thực sự rõ rệt. Ngành y tế đã đặt ra mục tiêu chỉ bán kháng sinh khi có đơn thuốc vào năm 2020 nhưng hiện giờ đến năm 2022 vẫn chưa thành công. Tương tự, ngành chăn nuôi cũng dự kiến cấm sử dụng thức ăn chăn nuôi có pha trộn kháng sinh cho mục đích sinh trưởng từ năm 2018, và sẽ cấm sử dụng cho mục đích dự phòng bệnh từ năm 2020, tuy nhiên tiến trình còn đang gặp nhiều thách số bệnh viện lớn tham gia các dự án cho thấy có sự cải thiện về tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong điều trị. Ngoài ra, không có báo cáo công khai nào về giảm sử dụng kháng sinh trong ngành nông nghiệp hoặc trong cộng các chuyên gia dịch tễ toàn cầu, “Một sức khỏe” được coi là cách tiếp cận lý tưởng nhất để chống lại các bệnh dịch và tình trạng kháng kháng sinh vì chúng đặt tất cả sức khỏe của con người, động vật và môi trường trong một mối quan tâm góc nhìn thực hành một sức khỏe ở Việt Nam, TS. Phúc nói rằng dù đã tạo được các nền tảng căn bản, chúng ta vẫn còn vướng nhiều rào cản về nguồn lực đầu tư hỗ trợ nước ngoài không thay thế được ngân sách công, chia sẻ thông tin không dễ liên thông dữ liệu giữa các dự án, phòng thí nghiệm, bệnh viện, viện trường, cơ quan, bộ ngành và tư duy tích hợp các bên ngồi lại để cùng thiết kế ra các chương trình hành động thống nhất để có thể tạo ra những liên kết đủ mạnh giải quyết vấn đề nhức nhối này. Chúng tôi, Văn Phòng Đại Diện Tổ Chức Y Tế Thế Giới WHO tại Việt Nam và Tổng Hội Y Học Việt Nam nhận thức rõ vai trò quan trọng của các cán bộ, nhân viên y tế trong cuộc chiến chống lại kháng kháng sinh AMR. Chính vì vậy, chúng tôi cùng nhau khẳng định cam kết kêu gọi các cán bộ, nhân viên y tế trên cả nước đồng hành với chúng tôi để chung tay chống lại mối đe dọa sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng kháng sinh AMR là mối đe dọa chưa từng có đối với thành tựu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân UHC, các mục tiêu sức khỏe nằm trong Mục tiêu Phát triển Bền vững SDGs và an ninh của người dân. AMR là một quá trình tự nhiên được gia tăng do các hoạt động và thói quen của con người, chẳng hạn như lạm dụng và sử dụng kháng sinh sai mục đích, lây lan và truyền kháng, nhiễm trùng, và ô nhiễm môi trường. Tất cả mọi người đều có nguy cơ bị ảnh hưởng do kháng kháng sinh. Tất cả mọi người cũng trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần vào sự phát triển và xuất hiện của kháng kháng khuôn khổ Thúc đẩy hành động chống lại kháng kháng sinh ở khu vực Tây Thái Bình Dương, được các quốc gia thành viên thông qua vào ngày 10 tháng 10 năm 2019 tại Hội nghị Ủy ban Khu vực lần thứ 70, đáp ứng nhu cầu thiết lập các liên minh chuyên ngành bằng cách liên kết những nỗ lực của WHO và Chính phủ với những Hiệp hội chuyên ngành nhằm kêu gọi các bác sĩ, dược sĩ và đội ngũ nhân viên y tế đứng lên và hành động chống lại việc lạm dụng và sử dụng kháng sinh sai mục tiêu của Tuyên bố chung này nhằm làm nổi bật các lĩnh vực mà WHO và VMA tin chắc rằng với những nỗ lực chung có thể định hướng phát triển và tạo điều kiện cho việc thực hiện các can thiệp giáo dục và thay đổi hành vi nhằm thúc đẩy việc kê đơn, cấp phát và sử dụng thuốc hợp lí; cũng như nâng cao nhận thức về AMR. Cụ thể làKhuyến khích các trường y, dược và các đơn vị cung cấp chương trình phát triển chuyên môn liên tục CPD tiếp tục nỗ lực giáo dục các bác sĩ và dược sĩ về việc sử dụng kháng sinh hợp lí và thực hành phòng chống nhiễm thông những thông tin liên quan đến hướng dẫn lâm sàng, các phác đồ điều trị cho bác sĩ và hướng dẫn về các biện pháp can thiệp quản lý kháng sinh hiệu truyền giáo dục người tiêu dùng về sử dụng kháng sinh hợp lý thông qua các chiến dịch truyền thông để thúc đẩy quan điểm của WHO “sử dụng kháng sinh đúng bệnh, đúng liều và đúng chỉ dẫn của bác sĩ và dược sĩ”.Tuyên truyền, khuyến khích việc “không bán thuốc kháng sinh nếu không có bác sĩ kê đơn” tại các nhà thuốc tư chức hội nghị khoa học quốc gia về AMR vào năm 2020 và các sự kiện giáo dục quốc gia khác để phổ biến kiến ​​thức và cung cấp diễn đàn cho các bác sĩ lâm sàng để chia sẻ kinh nghiệm và phương pháp tiếp cận sáng tạo trong quản lý kháng sinh. Chúng tôi, Tổ Chức Y Tế Thế Giới và Tổng Hội Y Học Việt Nam, cam kết thực hiện “Lời kêu gọi hành động về kháng kháng sinh”. TÌNH HÌNH KHÁNG THUỐC KHÁNG SINH HIỆN NAY TẠI VIỆT NAM DS. Lê Mới Em, Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Thạnh Trị, Sóc Trăng 1. Tình hình đề kháng thuốc kháng sinh hiện nay hình kháng thuốc trên thế giới. Trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển, vấn đề kháng thuốc đã trở nên báo động. Gánh nặng về chi phí điều trị do các bệnh nhiễm khuẩn gây ra khá lớn do việc thay thế các kháng sinh cũ bằng các kháng sinh mới, đắt tiền. Số liệu nghiên cứu giám sát ANSORP từ tháng 1/2000 đến tháng 6/2001 của 14 trung tâm từ 11 nước Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ kháng cao của vi khuẩn S. pneumoniae. Trong số 685 chủng vi khuẩn S. pneumoniae phân lập được từ người bệnh, có 483 52,4% chủng không còn nhạy cảm với penicillin, 23% ở mức trung gian và 29,4% đã kháng với penicillin MIC ≥ 2mg/l. Kết quả phân lập vi khuẩn cho thấy tỷ lệ kháng penicillin ở Việt Nam cao nhất 71,4% tiếp theo là Hàn Quốc 54,8%, Hồng Kông 43,2% và Đài Loan 38,6%. Tỷ lệ kháng erythromycin cũng rất cao, ở Việt Nam là 92,1%, Đài Loan là 86%, Hàn Quốc là 80,6%, Hồng Kông là 76,8% và Trung Quốc là 73,9%. Số liệu từ nghiên cứu giám sát đa trung tâm đã chứng minh rõ ràng về tốc độ và tỷ lệ kháng của S. pneumoniae tại nhiều nước châu Á, những nơi có tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất thế giới. Theo số liệu nghiên cứu KONSAR từ 2005-2007 ở các bệnh viện Hàn Quốc cho thấy S. aureus kháng Methicillin MRSA 64%; K. pneumoniae kháng cephalosporin thế hệ 3 là 29%; E. colikháng fluoroquinolone 27%, P. aeruginosa kháng 33%, Acinetobacter spp. kháng 48%; P. aeruginosa kháng amikacin 19%, Acinetobacter 37%. E. faecium kháng vancomycin và Acinetobacter spp. kháng imipenem tăng lên dần. Tỷ lệ kháng phát hiện tại các phòng xét nghiệm của E. coli và K. pneumoniae đối với cephalosporin thế hệ 3 và P. aeruginosa đối với imipenem cao hơn trong bệnh viện. Tình hình kháng thuốc kháng sinh ở Việt Nam. Tỉ lệ kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Gram dương. Tụ cầu vàng Staphylococcus aureus là nguyên nhân gây nhiều loại nhiễm khuẩn trong bệnh viện như viêm phổi, nhiễm trùng xương, tim và nhiễm khuẩn huyết. Hiện nay, tụ cầu vàng kháng methicillin MRSA kháng giống nhau đối với tất cả các penicillin hiện hành và các β – lactam khác. Từ sau thập niên 1990 đã xuất hiện các trường hợp nhiễm MRSA tại cộng đồng gọi là CA-MRSA community-associated MRSA, những trường hợp này hoàn toàn không có yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện. Nhiễm trùng do vi khuẩn này đang có khuynh hướng xảy ra phổ biến hơn ở người trẻ, khỏe mạnh và gây bệnh chủ yếu ở da và mô mềm. Cũng có thể gặp viêm phổi hoại tử do vi khuẩn này. Nhiễm khuẩn do MRSA khó điều trị hơn so với tụ cầu vàng nhạy cảm với methicillin, chỉ có một số kháng sinh còn có hiệu quả tốt trong tình huống này. Tỉ lệ kháng kháng sinh của S. aureus khác nhau giữa các bệnh viện có tới 68,8% các chủng phân lập tại bệnh viện Chợ Rẫy kháng với Gentamicin. Tỉ lệ kháng Oxacillin cao nhất tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế với 63,8%. Theo báo cáo của Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2008, có 8% số chủng S. aureus phân lập được đề kháng với vancomycin. Tuy nhiên, đến năm 2009, phần lớn các bệnh viện kể cả Chợ Rẫy không có chủng S. aureus nào đề kháng với vancomycin trừ một số bệnh viện tỉnh và bệnh viện trực thuộc Sở y tế cho kết quả đáng nghi ngờ về tỉ lệ kháng vancomycin của tụ cầu vàng, ví dụ như 60,9% S. aureus kháng vancomycin tại bệnh viện Uông Bí, 24,1% tại bệnh viện Bình Định và 15,6% tại bệnh viện Xanh Pôn. Streptococcus pneumoniae xuất hiện kháng thuốc với nhiều loại kháng sinh, bao gồm penicillin, cephalosporins các β – lactam, macrolide, fluoroquinolone, và thậm trí đã xuất hiện đa kháng thuốc. Cơ chế phế cầu đề kháng với β – lactam là thay đổi protein kết hợp thuốc PBP-penicillin binding protein. Tình hình kháng với macrolide là cao và nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Hai cơ chế chính kháng macrolide, cụ thể là kháng ở mức thấp MIC 1-32mcg/mL do thay đổi cơ chế bơm đẩy do gen mef A quyết định và kháng ở mức cao MIC> 64mcg/mL do cơ chế methyl hóa ribosome tác động lên vị trí kết hợp thuốc do gen erm B quyết định. Hiện nay, trên phạm vi toàn cầu, tình trạng phế cầu kháng fluoroquinolone FQ còn rất hiếm nhưng đang có khuynh hướng gia tăng. Fluoroquinolone tác dụng trên vi khuẩn thông qua cơ chế ức chế tổng hợp DNA. Kháng thuốc xuất hiện bằng cơ chế đột biến các gen gyrA và parC. Ở các trường hợp ngưỡng kháng thấp, đột biến chủ yếu xảy ra ở vị trí parC và các trường hợp này còn nhậy cảm với các fluoroquinolone mới. Trong khi kháng ở mức độ cao có sự tham gia đồng thời đột biến ở cả 2 vị trí gen parC và gyrA. Kháng thông qua cơ chế bơm đẩy cũng có thể xảy ra nhưng ý nghĩa thực của cơ chế còn chưa biết rõ. Tỉ lệ kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn Gram âm. Nhiễm trực khuẩn Gram- như Klebsiella pneumoniae, Escherichia coli và các chủng vi khuẩn khác thuộc nhóm Enterobacteriaceacó vẻ tương đối phổ biến. Trong những năm qua, đã có sự gia tăng kháng thuốc trong số các vi khuẩn gây bệnh nhóm này, bao gồm cả sự hiện diện của các men beta-lactamase phổ rộng ESBL. Những ca kháng thuốc đã được ghi nhận ở nhiễm khuẩn cộng đồng và nhất là trên những người có sử dụng dịch vụ chăm sóc y tế. Nhiễm trùng nhóm này thường kết hợp với tăng tử vong, có rất nhiều dạng kháng thuốc đã được phát hiện trong nhóm trực khuẩn Gram - này. Klebsiella pneumoniae là trực khuẩn Gram âm gây viêm phổi mắc phải tại bệnh viện. Hiện nay, tại Việt Nam đã xuất hiện một trong những vi khuẩn đa kháng thuốc. Sự kháng thuốc của nhóm vi khuẩn này cực kì nguy hiểm bởi vì bản thân loại vi khuẩn này có khả năng sinh được hai loại enzyme β lactamase phổ rộng và carbapenemase. Các enzyme này làm biến đổi, phá hủy cấu trúc hóa học của kháng sinh. β lactamase phổ rộng có khả năng phân giải hầu hết các loại kháng sinh thuộc nhóm β lactam đặc biệt đối với các penicillin và các cephalosporin thế hệ thứ 3. Quan trọng hơn nữa là Klebsiella pneumoniae còn có khả năng sản sinh được carbapenemase phân giải carbapenem như imipenem, meropenem…, trong khi carbapenem được xem như là cứu cánh cuối cùng trong việc lựa chọn kháng sinh để điều trị. Kết quả Phân lập được 35 chủng từ 680 mẫu bệnh phẩm tại Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh từ tháng 1-6/2014, kết quả như sau K. pneumoniakháng cao nhất với Ampiciline 94,29%, tiếp đó Trimethoprim/ sulfamethoxazol 79,31%, Cephalexine, Piperacillin 62,86%, Ceftazidime 51,43%, chỉ một tỉ lệ nhỏ kháng lại Colistin, Imipenem, Meropenem 2,86%; 65,71% chủng sinh ESBL và 20% chủng sản xuất carbapenemase. Trực khuẩn mũ xanh Pseudomonas aeruginosa là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây nhiễm khuẩn mắc phải tại bệnh viện. Chúng gây nên những bệnh lí với nhiều mức độ khác nhau như viêm phổi, nhiễm khuẩn vết thương, nhiễm khuẩn huyết nặng với tỉ lệ tử vong khá cao. Tỉ lệ P. aeruginosa gây nhiễm khuẩn bệnh viện đã tăng dần trong những năm gần đây trên thế giới và cả Việt Nam. Cùng với sự gia tăng về tỉ lệ nhiễm khuẩn là sự gia tăng về khả năng kháng kháng sinh, cụ thể kháng với carbapenem. Ở Việt Nam, nghiên cứu ở 36 bệnh viện các tỉnh phía Bắc trong năm 2006 – 2007 bao gồm 2 bệnh viện Trung ương, 17 bệnh viện tuyến tỉnh, 17 bệnh viện tuyến huyện cho thấy 553/7571 7,8% bệnh nhân bị nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện. Có 3 loại nhiễm khuẩn chính viêm phổi 41,9%, nhiễm khuẩn vết mổ 27,5%, nhiễm khuẩn tiêu hóa 13,1%. Căn nguyên chính là Acinetobacter baumannii 23,3% và Pseudomonas aeruginosa 31,5%. Theo kết quả nghiên cứu từ 4 bệnh viện tại Hà Nội Việt Đức, Xanh Pôn, Bệnh viện 108 và Bệnh viện 103 từ năm 2005 – 2008 cho thấy P. aeruginosa phân lập từ các bệnh phẩm đề kháng rất cao với các loại kháng sinh như Tetracycline 92,1%, Ceftriaxone 58,5% và Gentamicin 54%. Acinetobacter là những vi khuẩn Gram âm, đa hình hình cầu khuẩn hoặc cầu trực khuẩn, rất dễ nhầm lẫn với các vi khuẩn thuộc giống Neisseria. Chúng gây những bệnh lí khác nhau với mức độ khác nhau, từ viêm phổi đến nhiễm khuẩn vết thương và nhiễm khuẩn huyết nặng. Tỉ lệ Acinetobacter nhiễm khuẩn bệnh viện đã tăng lên đều đặn trong những năm gần đây trên thế giới. Kết hợp với tỉ lệ nhiễm khuẩn tăng, một tỉ lệ tăng lên của chủng không nhạy cảm kháng sinh, cụ thể carbapenem đặc biệt đáng lo ngại. Hiện nay, Acinetobacter được xem là vi khuẩn hàng đầu gây viêm phổi bệnh viện tại những bệnh viện lớn trong nước và kháng với hầu hết kháng sinh kể cả những kháng sinh phổ rộng mạnh nhất hiện nay. Trong tổng kết của Bộ Y tế năm 2004, phần lớn những kháng sinh sử dụng thường xuyên hiện nay đã bị kháng như ceftriaxone 70%, ceftazidime 64%, ciprofloxacine 55% và Acinetobacter trở thành tác nhân hàng đầu kháng toàn bộ kháng sinh cùng với P. aeruginosa gây rất nhiều khó khăn cho công tác điều trị. Các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc hiện nay “ESKAPE”viết tắt của 6 chữ cái đầu tiên của 6 chủng vi khuẩn trong hình minh họa bên dưới là các tác nhân gây nhiễm trùng nặng, kéo dài thời gian nằm viện và tăng chi phí điều trị. 2. Cơ chế đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Làm thay đổi đích tác động. Vi khuẩn thay đổi đích tác động của kháng sinh, do đó kháng sinh không còn vị trí để tác động. Ví dụ Acinobacter baumani kháng lại Imipenem và Pseudomonas aeruginosa kháng Ticarcillin và Imipenem do chúng thay đổi vị trí gắn vào protein của các kháng sinh. Cơ chế tác động của các kháng sinh nhóm quinolone là ức chế hoạt động của đoạn gen mã hóa quá trình tổng hợp enzym GyrA ADN gyrase subunit A và ParC topoisomerase IV của tế bào vi khuẩn. Ví dụ tính kháng quinolone của S. typhi xảy ra do đột biến điểm của các đoạn gen mã hóa quá trình tổng hợp enzym GyrA và ParC trên nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Tạo ra các enzyme. Enzym được tạo ra làm biến đổi hoặc phá hủy cấu trúc phân tử của kháng sinh. Ví dụ với các enzym beta-lactamase có khả năng phá hủy penicillin được báo cáo trước khi được đưa vào sử dụng vào đầu những năm 1940. Sau đó hàng loạt các enzym beta-lactamase có khả năng ức chế hoặc phân hủy các kháng sinh mạnh như cephalosporin và carbapenem được phát hiện. Hiện nay đã xác định được hơn 890 loại enzym kháng kháng sinh của vi khuẩn, nhiều hơn số lượng các loại kháng sinh đã được sản xuất và phần lớn các gen mã hóa các enzym này nằm trên các plasmid có thể truyền dễ dàng trong quần thể vi khuẩn cùng và khác loài. Làm giảm tính thấm của màng nguyên sinh chất Làm giảm mức độ thấm của kháng sinh qua thành tế bào vi khuẩn trong trường hợp kháng tetracycline hoặc làm mất hệ thống vận chuyển qua màng trong trường hợp kháng kháng sinh nhóm aminoglycosid. Việc thâm nhập của các kháng sinh nhóm beta-lactam được thực hiện qua các kênh vận chuyển porin, vi khuẩn biến đổi làm mất các kênh vận chuyển và làm hạn chế sự tác động của nhóm kháng sinh này. Cơ chế bơm đẩy efflux pump của các kháng sinh nhóm quinolon của vi khuẩn E. colivà P. aeruginosa, thường liên quan đến hệ thống vận chuyển ion qua màng tế bào. Tài liệu tham khảo. 1. Bùi Khắc Hậu và nhóm tác giả 2008, Dịch tễ học phân tử các chủng Pseudomonas aeruginosa đa kháng thuốc nhiễm trùng bệnh viện tại Hà Nội, Báo cáo kết quả nghiên cứu Đề tài cấp Bộ, Đại học Y Hà Nội. 2. Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Tuyết Nga, Vũ Văn Giang, Nguyễn Văn Hà, Trần Quý 2008, Tỉ lệ và các yếu tố liên quan đến nhiễm trùng bệnh viện trong một số bệnh viện ở phía bắc của Việt Nam, 2006-2007, Tạp chí Y học lâm sàng 6. 3. Hoàn Doãn Tĩnh, Vũ Lê Ngọc Lan, Uông Nguyễn Đức Minh, Lí Thành Hữu, Cao Hữu Nghĩa 2014, Tình hình kháng kháng sinh của Pseudomonas aeruginosa phân lập được trên bệnh phẩm tại viện pasteur, TP Hồ Chí Minh. 4. Bùi Thị Mùi, Lê Thị Ánh Hồng, Nguyễn Thanh Liêm 2010, “Tỉ lệ sinh men Beta – lactamaes phổ rộng và tính nhạy cảm kháng sinh của Klebsiella Pneumoniae gây nhiễm khuẩn đường hô hấp trẻ em từ sơ sinh đến 6 tuổi ở Bệnh viện Nhi Trung ương”, Tạp chí Y học dự phòng, 217. 5. Kế hoạch hành động quốc gia về phòng chống kháng thuốc giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2020 Phê duyệt kèm theo Quyết định số 2174/QĐ-BYT ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế. 6. Nghiên cứu giám sát ANSORP từ 1/2000 đến 6/2001 Song JH & ANSORP. Antimicrobial Agents And Chemotherapy, June 2004, p. 2101–2107. 7. Nghiên cứu KONSAR từ 2005-2007 ở các bệnh viện KoreaYonsei Med J. 2010 Nov;516901-11. 8. Clinical Relevance of the ESKAPE

kháng kháng sinh ở việt nam